Rung giật nhãn cầu theo tư thế có thể liên quan đến nhiều loại rối loạn khác nhau. Nghiên cứu hiện tại nhằm mục đích so sánh đặc điểm rung giật nhãn cầu theo tư thế ngang thay đổi hướng (DCPN) ở bệnh sỏi ống bán khuyên ngang (HC-canalolithiasis), bệnh dày vòm ống bán khuyên ngang (HC-Hcu) và bệnh mỏng vòm ống bán khuyên ngang (HC-Lcu), đặc biệt là các kiểu mẫu theo thời gian của rung giật nhãn cầu theo tư thế trong ba loại rối loạn này.
52 bệnh nhân (22 nam, 30 nữ; tuổi trung bình 49,6 năm) mắc chứng DCPN hướng trọng lực hoặc ngược trọng lực đã được tuyển chọn và được chia thành các nhóm HC-canalolithiasis, HC-Hcu hoặc HC-Lcu dựa trên đặc điểm rung giật nhãn cầu của họ. Chúng tôi đã so sánh độ trễ, hằng số thời gian, vận tốc pha chậm cực đại (SPV), thời gian đạt cường độ SPV cực đại (T peak ) và thời gian giảm xuống còn một nửa cường độ cực đại (T 1/2peak ).
Thời gian đạt đỉnh SPV không khác biệt đáng kể giữa nhóm HC-Hcu (23,1 ± 8,6 s) và nhóm HC-Lcu (24,4 ± 9,9 s) (p = 0,733), nhưng dài hơn đáng kể so với nhóm HC-canalolithiasis (5,4 ± 3,5 s; p ≤ 0,001). Cường độ đỉnh không khác biệt giữa các nhóm canalolithiasis (36,4 ± 20,6°/s), HC-Hcu (30,1 ± 23,6°/s) và HC-Lcu (21,4 ± 12,7°/s) (p = 0,133). Thời gian khởi phát cũng không có sự khác biệt thống kê giữa ba nhóm (p = 0,200). Các kiểu rung giật nhãn cầu của nhóm HC-Lcu và HC-Hcu tương tự nhau, bao gồm độ trễ, cường độ SPV đỉnh, Tpeak, T1/2peak và SPV ở các thời điểm 20 s, 40 s, 60 s, 80 s.
Đặc điểm rung giật nhãn cầu của HC-Hcu và HC-Lcu tương tự nhau, ngoại trừ việc chuyển động theo hướng ngược nhau, cho thấy HC-Hcu và HC-Lcu có thể là kết quả của một cơ chế bệnh sinh tương tự (bệnh lý màng nhĩ) khác với cơ chế gây ra sỏi ống bán khuyên.